(+84-8) 39374865
vietnam@inmatech.co.uk
TRANG CHỦ
THÔNG TIN CÔNG TY
SẢN PHẨM
BALLAST
NAVMASTER
SẢN PHẨM NGƯ NGHIỆP
GIẢI PHÁP
ĐÀO TẠO
THƯ VIỆN HÀNG HẢI
Quản lý giao thông hàng hải (VTS) Cơ sở dữ liệu và sản xuất hải đồ Quản lý nhiên liệu Quản lý, cập nhật ấn phẩm, hải đồ

Bài viết liên quan

Giới thiệu Inmatech

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIAO THÔNG HÀNG HẢI.

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIAO THÔNG HÀNG HẢI.

Giải pháp quản lý giao thông hàng hải VTS là một hệ thống lắp đặt ở khu vực bờ biển nhằm cung cấp từ những thông tin đơn giản cho tàu (như vị trí của các phương tiện vận tải biển khác trong khu vực, những cảnh báo hàng hải nguy hiểm) đến việc mở rộng khả năng quản lý các phương tiện trong cảng hoặc trong vùng nước đó.

Thông thường, người quản lý cảng sẽ nhận được một báo cáo từ hệ thống VTS của khu vực khi có một tàu vào, thường thông qua radio hoặc một bản ghi từ trung tâm điều khiển VTS.

Các tàu phải liên tục quan sát hệ thống chỉ đường hoặc các cảnh báo theo một tần suất cụ thể, trong khi nó, họ đồng thời có thể được người vận hành hệ thống VTS chủ động liên lạc nếu có rủi ro hoặc một tai nạn nào đó, hoặc cảnh báo trước cho họ về một khu vực có mật độ giao thông dày để đề xuất giải pháp trong lúc họ di chuyển vào cảng.

Chương V của SOLAS về an toàn hàng hải nêu rõ các chính phủ có thể thiết lập hệ thống VTS khi họ cho rằng mật độ giao thông hoặc mức độ rủi ro trong khu vực đòi hỏi phải sử dụng công cụ này.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG VTS.

Theo thông lệ, các chủ tàu thường phải chịu trách nhiệm về các khóa đào tạo liên quan và vận tốc tàu, họ cũng thường được sự hỗ trợ của hoa tiêu khi cần thiết. Khi tàu đến một cảng, họ thường thông báo về việc đó cho cảng bằng cờ hiệu.

Với sự phát triển của radio vào cuối thế kỷ 19, liên lạc bằng radio trở nên quan trọng hơn. Tuy nhiên sự phát triển của radar trong thế chiến thứ 2 cũng giúp nó có thể theo dõi và ghi nhận chính xác lượng tàu lưu thông.

Radar giám sát bến cảng đầu tiên được được khánh thành ở Liverpool, Anh vào tháng 7 năm 1948. Vào tháng 3 năm 1950, một hệ thống radar giám sát tương tự được lắp đặt ở Long Beach, California, Mỹ. Từ việc kết hợp sử dụng radar để theo dõi lưu lượng tàu và radio để truyền tín hiệu dẫn đường cho các tàu, cơ quan quản lý vùng ven biển để tạo ra những hệ thống VTS chuẩn mực đầu tiên.

IMO nhận ra giá trị của VTS trong công tác hàng hải an toàn và đề cập lần đầu tiên trong Nghị quyết A.158 (ES.IV) của Hệ thống tư vấn cảng biển được ban hành năm 1968, do các thiết bị và công nghệ hiện đại dùng theo dõi và điều khiển giao thông đường thuỷ ngày càng trở nên phức tạp nên các hướng dẫn cần có trong việc chuẩn hoá những quy trình thiết lập VTS là không thể thiếu.

Vì vậy, vào năm 1985, IMO thông qua nghị quyết A.578 Hướng dẫn về hệ thống VTS – trong đó nêu rõ VTS đặc biệt thích hợp được trang bị ở các khu vực cảng có lưu lượng lớn tàu ra – vào, hành hải khó khăn, vận chuyển hang hóa độc hại/nguy hiểm, kênh đào hẹp hoặc độ nhạy của môi trường lớn.

Hướng dẫn cũng nêu rõ các quyết định liên quan đến việc duy trì hiệu quả hành hải cho các chủ tàu. Ngoài ra, hướng dẫn còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dẫn tàu trong VTS và phương thức báo cáo khi tàu di chuyển qua một vùng có hệ thống VTS hoạt động.

Hướng dẫn sửa đổi VTS.

Hướng dẫn sửa đổi VTS bao gồm hướng dẫn tuyển dụng, trình độ chuyên môn và đào tạo vận hành hệ thống VTS được ban hành tháng 11, năm 1997 như một phần của nghị quyết  A.857 (20).

Hệ thống VTS và SOLAS.

VTS không được đề cập cụ thể trong trong Công ước quốc tế về An toàn của con người trên biển (SOLAS) năm 1974, nhưng đến tháng 6 năm 1997, Tổ chức An toàn hàng hải của IMO đã ban hành quy định mới cho chương V (Hoạt động hang hải an toàn) trong đó đề nghị áp dụng hệ thống VTS.

Bản sửa đổi SOLAS (chương V) về Hoạt động hang hải an toàn được ban hành tháng 12 năm 2000, và bắt buộc thực hiện vào ngày 01/07/2002. Điều 12 liên quan đến hệ thống VTS như sau:

  1. Hệ thống VTS góp phần đảm bảo cho sự an toàn sinh mạng của con người trên biển, an toàn và hiệu quả trong hoạt động chỉ đường và bảo vệ môi trường hàng hải/khu vực ven bờ, nơi làm việc/công trình xa bờ nhằm tránh khỏi tác động ngoài ý muốn của việc lưu thông hàng hải.
  2. Các chính phủ ký cam kết sắp xếp lắp đặt VTS cho những khu vực họ thấy rằng có lưu lượng tàu và mức độ rủi ro lớn, đòi hỏi phải có những dịch vụ tương tự.
  3. Các chính phủ ký kết sẽ lên kế hoạch và thực hiện hệ thống VTS tại bất cứ nơi nào có thể, bám sát theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức. Việc sử dụng VTS chỉ bắt buộc thực hiện đối với những vùng biển thuộc lãnh hải của mỗi quốc gia.
  4. Các chính phủ cam kết sẽ nổ lực để đảm bảo việc tham gia, tuân thủ và cung cấp hệ thống VTS cho những tàu treo cờ của họ.
  5. Tài liệu và quy định này không bao gồm bất kì điều khoản nào phương hại đến quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia theo Luật quốc tế hoặc các khuôn khổ pháp lý khác được áp dụng trong hệ thống hàng hải quốc tế và hệ thống đường thuỷ giữa các quần đảo
Quảng cáo
X